Chào mừng quý vị đến với website của ...
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 - 11
CỨ LIỆU HOÀNG SA - TRƯỜNG SA

Nguồn:
Người gửi: Tân Mạnh Luu (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:22' 20-10-2013
Dung lượng: 150.8 KB
Số lượt tải: 0
Mô tả:
CỨ LIỆU LỊCH SỬ VỀ VẤN ĐỀ HOÀNG SA – TRƯỜNG SA
1. Thời kì phong kiến
1.1. Việt Nam
Thiên Nam tứ thư lộ đồ thư là tài liệu sớm nhất mà Việt Nam có được để khẳng định về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được biên soạn bởi Đỗ Bá vào giữa thế kỷ XVII.
Sách gồm 4 quyển, trong đó quyển 1 có tập hợp được những tư liệu từ thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), đặc biệt là việc ông thân chinh bình định Chiêm Thành và sáp nhập Quảng Nam vào lãnh thổ Đại Việt, và vùng biển bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa đương nhiên cũng thuộc lãnh thổ Đại Việt.
Đỗ Bá cũng vẽ lộ đồ đất nước, trong đó dùng danh từ “Bãi cát vàng” để chỉ nhóm đảo ngoài biển Đông đối diện với xứ Quảng Nam. “Giữa biển có 1 dải cát dài, tên gọi là Bãi Cát vàng dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm dựng đứng giữa biển….Hàng năm vào cuối mùa đông, chúa Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền đến đấy để lấy hàng hóa, vật sản, được nhiều vàng bạc, tiền tệ, súng đạn và vật liệu khác…”.
Như vậy, ngay từ thế kỷ XVII, Đại Việt đã có những cứ liệu lịch sử quan trọng để chứng minh chủ quyền của mình trên Bãi cát vàng hay quần đảo Hoàng Sa hiện nay.
Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn được biên soạn khi được cử vào phủ dụ, trấn an nhân dân hai đạo Thuận Hóa và Quảng Nam (nay là Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) cuối đời Lê, khoảng năm 1776. Sách gồm 6 quyển, trong đó quyển 2 đề cập chi tiết đến vấn đề 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Có thể thấy đây là tài liệu đầy đủ và chính xác nhất về vấn đề này trong giai đoạn thế kỷ XVIII.
“Ở ngoài cửa biển lớn thuộc địa phận xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi) có một hòn núi màn tên Cù lao Ré, rộng khoảng hơn 30 dặm….Ở ngoài Cù lao Ré có đảo Đại Trường Sa…”.
“Họ Nguyễn thiết lập 1 đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã Anb Vĩnh bổ sung vào…, lấy tháng Giêng, ra đi nhạn lãnh chỉ thị làm sai dịch. Đội Hoàng Sa nay được cấp phát mỗi người 6 tháng lương…đến kì tháng 3, đội Hoàng Sa ấy mới về cửa Eo (Thuận An), rồi họ tới thành Phú Xuân trình nạp các vật hạng đã lượm được”:
Năm Nhâm Ngọ 1702: đội Hoàng Sa thu được 30 thoi bạc.
Năm Giáp Thân 1704: thu được 5.100 cân thiếc.
Năm Ất Dậu 1705: thu được 126 thoi bạc.
Họ Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc Hải…chọn lấy người thôn Tư Chánh thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn lấy người Cảnh Dương lấy những người lính tình nguyện bổ sung vào đội quân Bắc Hải. Quan địa phương cấp phát giấy chứng nhận và chỉ thị sai phái đi làm công tác. Họ chèo thuyền ra Cù lao Côn Lôn ở giữa Bắc Hải, hoặc đi đến xứ Cồn Tự thuộc vùng Hà Tiên để tìm kiếm sản vật. Đội Hoàng Sa kiêm lãnh đội Bắc Hải này.
►Như vậy: các chúa Nguyễn từ thế kỷ XVII, XVIII ngoài việc chia đặt các đơn vị hành chính, xác lập chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì cũng đã lập ra những đội quân riêng để tiện việc khai thác sản vật ở nơi này. Điều đó chứng tỏ Đại Việt từ sớm đã xác định chủ quyền ở đây.
Sách cũng ghi “Năm 1753, 10 người ra Vạn lí Trường Sa lượm sản vật, 8 người lên kiếm tìm, 2 người trên thuyền đị cuồng phong làm đứt neo, trôi dạt đến cảng Thanh Lan (Trung Quốc) và được xét trả lại nguyên quán. Điều đó tiếp tục khẳng định 1 điều là Đại Việt đã có những hành động khẳng định chủ quyền ở đây còn Trung Quốc thì chưa.
Đại Nam nhất thống toàn đồ được vẽ khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, có ghi rõ ràng giới Đại Nam với các quốc gia khác, và đặc biệt đã ghi tên các Vạn Lí Trường Sa và Hoàng Sa trên bản đồ cùng với các đảo khác để khẳng định chủ quyền.
Theo đó, Vạn Lí Trường Sa nằm đối diện với Phú Yên, Khánh Hòa và một số đảo nhỏ rải rác kéo xuống phía Nam thẳng góc với Vũng Tàu.
Hoàng Sa là một nhóm đảo gồm nhiều đảo nhỏ từ cửa Đại Cát Mặc (Đại Chiếm) kéo dài và đối diện với Đà Nẵng.
An Nam đại quốc họa đồ ra đời năm 1838, cùng thời với bản đồ trên, do giám mục Louis Taberd giới thiệu và sử dụng danh xưng An Nam theo cách gọi của nước ngoài về Việt Nam lúc đó.
Trong khoảng vĩ tuyến 17o và kinh tuyến 110o bản đồ có ghi chú 1 số đảo nhỏ và ghi chú là “Paracel seu Cát Vàng”, tức là tên gọi Hoàng Sa của người Pháp cùng với tên Việt. Như vậy, bản đồ trên cũng mặc nhiên công nhận Hoàng Sa là thuộc chủ quyền của An Nam chứ không phải của Trung Quốc.
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, gồm 10 phần, 49 quyển, có viết về Địa dư chí từ quyển 1 đến quyển 5. Viết về Đạo Quảng Nam, phủ Tư Nghĩa, tác giả tập trung vào Hoàng Sa và Trường Sa vì đây là những miền đất quan trọng, án ngữ phía Đông của phủ.
“Thôn An Vĩnh thuộc huyện Bình Dương, ở ngoài biển, gần phía Đông Bắc, ngoài biển có nhiều đảo lớn, nhiều núi linh tinh hơn 130 ngọn, từ trong núi ra biển, ước đầy 1 ngày đường, hoặc một vài trống canh…giữa đảo có bãi Hoàng Sa, dài độ 30 dặm….nhiều thuyền buôn đi ngang gặp gió đều nương đậu vào đảo này”. Sách cũng nói về việc chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa để khai thác sản vật ở đây.
Hoàng Việt địa dư chí (1833) tiếp tục khẳng định hơn nữa về địa lí và chủ quyền của nước ta về Hoàng Sa.
Đặc biệt, Quốc sử quán triều Nguyễn là một cơ quan chuyên trách về biên soạn các sách lịch sử, địa lí đã có nhiều công trình chứng tỏ chủ quyền của nước ta trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đại Nam thực lục tiền biên (1884): ghi chép về các đời chúa Nguyễn (1558 - 1778) đã ghi lại rất chi tiết về các vấn đề liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa, thực chất là khẳng định lại những việc mà các chúa Nguyễn đã làm trong việc khẳng định chủ quyền và khai thác ở hai quần đảo.
Đại Nam thực lục chính biên:
Tháng Giêng năm Ất Hợi (1815): sai Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình.
Năm 1816: vua ra lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra đảo Hoàng Sa để khám xét và đo đạc đường thủy, tuyên bố chủ quyền ở đây.
Minh Mạng năm 14 (1833): vua sai bộ Công chuẩn bị thuyền bè, năm sau sẽ đến Hoàng Sa dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối để về sau dễ nhận biết.
Năm 1834: vua sai Giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân 20 người đi thuyền đến Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ xong rồi về.
Năm 1835: vua sai cai đội thủy quân Phạm Văn Nguyên và Giám thành cùng thủy quân xây dựng một tấm bia đá trước miếu cổ, khắc 4 chữ “Vạn Lí ba bình”.
Năm 1836: vua sai thủy quân ra đảo đo đạc, miêu tả, vẽ lại bản đồ các hòn đảo trong quần đảo Hoàng Sa.
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ gồm 97 quyển, viết từ thời Gia Long 1802 đến năm Tự Đức thứ tư 1851. Sách cũng ghi lại nội dung vua Minh Mạng cho quân ra xây dựng miếu ở TâyNam cồn Bạch Sa, trồng các loại cây nhằm khẳng định chủ quyền tại đây.
Quốc triều chính biên toát yếu là bộ sử được dịch thành chữ Quốc ngữ năm 1924, ngoài việc đề cập đến những sự kiện đã nhắc đến ở trên còn nhắc đến việc “tháng 12 năm 1836, tàu buôn nước Anh qua bãi Hoàng Sa bị mắc cạn, ghé vào bờ Bình Định, được vua tìm nơi cho ở và cấp lương ăn, sau đó cho người đưa về nước”.
Đại Nam nhất thống chí là tác phẩm về địa phương chí từ năm 1906 trở lại. Sách viết phía đông Quảng Nghĩa có đảo Hoàng Sa nằm ngang, liên tiếp giữa biển lớn làm ao sâu… Hoặc có ghi “phía đông Cù lao Ré, từ bờ biển Sa Kì, ghe chạy dọc ra khơi, thuận gió thì ba, bốn ngày sẽ đến nơi. Trên đảo có các núi la liệt hơn 130 ngọn,…trên đảo có đảo Hoàng Sa (Cát Vàng) kéo dài mấy ngàn dặm, tục danh Vạn Lí Trường Sa….chúa Nguyễn có đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào…”
Việt sử cương giám khảo lược biên soạn năm 1877, có ghi “Vạn lí Trường Sa thuộc đảo Lí Sơn, tỉnh Quảng Ngãi,…nước Việt Nam ta xưa kia thường chọn người đinh tráng ở hai đội An Hải và An Vĩnh đặt làm đội Hoàng Sa để thu lượm hải sản, cứ tháng 2 ra đi, tháng 8 trở về.
KẾT LUẬN: Những cứ liệu lịch sử trên giúp chúng ta có những khẳng định sau đây về chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
1. Việt Nam đã có những tư liệu lịch sử đầy đủ và rất sớm về sự xuất hiện, khai thác và chiếm hữu đối với 2 quần đảo trên.
2. Nhà nước phong kiến Việt Nam trải qua các giai đoạn khác nhau, đặc biệt từ thời kì các chúa Nguyễn đã liên tiếp có các hành động khẳng định chủ quyền trên 2 quần đảo này như phân định đơn vị hành chính; lập ra các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để khai thác sản vật; tiến hành đo đạc, xây dựng, trồng cây, vễ bản đồ hai quần đảo trên.
3. Các hành động trên của chính quyền phong kiến không vấp phải bất cứ hành động phản đối về mặt chủ quyền nào của Trung Quốc lúc đó, ngược lại, còn nhận được sự giúp đỡ lúc gặp giông bão.
1.2 Sử liệu của Trung Quốc
Vũ bị chí của Mao Nguyên Nghi (1621) chép việc đầu thế kỷ XV, Trịnh Hòa nhiều lần đi tuần du đã qua “Vạn lí thạch sàng”, tức Hoàng Sa hiện nay, nhưng không hề nhắc đến việc Trịnh Hòa lập bia ghi nhớ việc chiếm đóng như đã làm với các quốc gia hải đảo khác ở Đông Nam Á.
Doanh nhai thắng của Mã Hoan – thông ngôn của Trịnh Hòa có viết về việc ghé Chiêm Thành (Quy Nhơn), Côn Lôn dương, Ngoại La sơn (đảo Lí Sơn) nhưng không hề nhắc đến Hoàng Sa hay Trường Sa.
Hải quốc kiến văn lục của Trần Luân Quýnh (1744) khi mô tả đường biển từ Hải Nam đến vùng phía dưới có ghi rõ là “phía Nam ngấn cát nối tiếp đến Việt hải là Vạn Lí Trường Sa”. Trong cách dùng từ của người viết đã cho thấy sự khẳng định danh xưng Việt hải, tức là vùng biển của nước Đại Việt chứ không phải của Đại Thanh lúc đó. Như vậy, đến giữa thế kỷ XVIII, nhà nước phong kiến Trung Quốc vẫn coi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc Đại Việt, và không có những cứ liệu chính xác khẳng định chủ quyền của mình ở đó.
Hải ngoại kỉ sự của Thích Đại Sán được ghi chép trong khoản thời gian 1694 – 1695 khi ông được chúa Nguyễn mời đến giảng kinh Phật tai hai xứ Thuận Quảng. Những điều mắt thấy tai nghe được ông ghi lại như cảnh quan các nơi, sự bố phòng cửa biển của chúa Nguyễn, và về cả vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa: “cồn cát chạy dài từ Đông Bắc qua Tây Nam…gọi là Vạn Lí Trường Sa”.
1.3 Sử liệu của người phương Tây
Không giống như các tư liệu của Việt Nam và Trung Quốc, tư liệu của người phương Tây chủ yếu là của những thương nhân hoặc các nhà truyền giáo trong quá trình đi khám phá đã có biết về Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng, họ dùng danh từ Paracel để chỉ Hoàng Sa và Spratley để chỉ Trường Sa trên cả bản đồ hoặc các tư liệu khác.
1.3.1 Tư liệu của người Hà Lan
Kí sựBataviacủa cty Đông Ấn Hà Lan trong giai đoạn 1631 – 1636 có ghi nhiều sự kiện liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa.
Ngày 21/7/1634 (thời chúa Sãi), 3 tàu Hà Lan đã gặp bão ở Hoàng Sa, một tàu bị đắm. Thuyền trưởng và một số thủy thủ đã chèo thuyền nhỏ vào Hội An và nhờ người cứu các thủy thủ đang mắc kẹt ở Hoàng Sa.
Ngày 6/9/1636, tàu Hà Lan vào Hội An, được diện kiến chúa Thượng và được phép lập thương điếm ở Hội An.
1.3.2 Tư liệu của giám mục Taberd và Chaigneau
Chaigneau là người Pháp đã theo Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, có viết hồi kí về Nam Kì: xứ Cochinchine mà Quốc vương đã xưng đế gồm có xứ Đàng Trong, Bắc Hà,…và quần đảo Hoàng Sa (Paracel), gồm nhiều đảo nhỏ và mỏm đá thiếu dân ngụ cư. Vào năm 1816, vua tiếp nhận chủ quyền quần đảo này”.
Louis Taberd có ghi “quần đảo Paracel, mà người Việt gọi là Cát Vàng (Hoàng Sa) gồm rất nhiều hoang đảo chằng chịt nhau,…những hoang đảo này được chiếm cứ bởi người Việt xứ Đàng Trong….năm 1816, ông (Gia Long) đã long trọng treo tại đó (Hoàng Sa) cờ của xứ Đàng Trong”.
Ông còn viết một bài khỏa luận khác về vấn đề này năm 1849 và khẳng định rằng không một ai tranh giành với Gia Long trong việc khẳng định chủ quyền tại Hoàng Sa.
Ngoài ra, Gutzlaff cũng chỉ ra việc Gia Long đã nhìn nhận được vai trò và vị trí của Hoàng Sa nên đã đưa người đến ở, xác lập chủ quyền, biến nơi đây thành một nơi giao dịch quan trọng.
KẾT LUẬN:
- Hoàng Sa và Trường Sa là những quần đảo quen thuộc đối với các nhà hàng hải phương Tây và trong quan niệm của họ luôn cho rằng chủ quyền của hai quần đảo này là thuộc chúa Nguyễn và sau đó là triều Nguyễn.
- Đến giữa thế kỷ XIX, không có bất cứ một quốc gia nào khác ngoài Việt Nam lúc đó khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo này.
TÓM LẠI:
Trong thời kì phong kiến, duy chỉ có Việt Nam là có đủ tư liệu lịch sử, có sự quan tâm về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Việc xác lập chủ quyền của Việt Nam lúc đó không vấp phải sự phản đối, trách chấp của Trung Quốc hay bất cứ quốc gia nào khác. Như vậy, có thể khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo đó là điều đương nhiên và đã được nhiều quốc gia thừa nhận.
2. Thời kì Việt Nam bị biến thành thuộc địa của Pháp đến năm 1945
Thỏa ước Trung Hoa - Pháp 1887 (26/6) (“Convention relative à la delimitation de la frontière entre la Chine et le Tonkin): “Những hòn đảo nằm ở phía đông dọc đường kinh tuyến đông 105°43’ của Paris, có nghĩa là trục bắc-nam đi qua điểm phía đông của đảo Tch’a Kou hay Ouan-Chan (Trà Cổ) và làm thành đường biên giới, cũng thuộc về Trung Quốc. Các đảo Go-tho (Cô Tô) và các đảo khác nằm phía tây của đường kinh tuyến thuộc về An Nam.”
Có một số học giả viện vào bản hiệp ước này mà cho rằng Pháp đã đồng ý tất cả những hòn đảo nằm ở phía đông kinh tuyến 105o43’ đều là của Trung Quốc (trong đó có cả Hoàng Sa và Trường Sa) nhưng lại không chú ý rằng bản hiệp ước trên không hề nhắc đến 2 quần đảo này và chỉ có giá trị ở Bắc Kỳ và vùng vịnh Bắc Bộ mà thôi, tức là giải quyết những tranh chấp giữa Pháp và Trung Quốc ở vùng đất Quảng Đông, Vân Nam và Bắc Kỳ.
Hai vụ đắm tàu của Đức và Nhật Bản năm 1895 và 1896: tàu chở đồng có mua bảo hiểm của Anh, nhưng số đồng bị bỏ lại do tàu đắm đã bị ngư dân Trung Hoa lấy đi. Đại diện nước Anh phản kháng với chính quyền Trung Hoa nhưng tổng đốc Hải Nam đã phủ nhận trách nhiệm với lí do Hoàng Sa không thuộc chủ quyền của Trung Hoa và không có bất cứ nhà chức trách nào có nhiệm vụ giữ gìn an ninh ở đây.
►Trung Quốc đã lên tiếng khẳng định họ không có chủ quyền ở khu vực này.
Năm 1909: hành động đầu tiên của Trung Quốc trong việc tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa: tổng đốc Lưỡng Quảng đem 2 tàu gắn đại bác đổ bộ lên mấy đảo trong quần đảo Hoàng Sa nhưng rút ngay sau đó 1 ngày.
Năm 1920: Nhật xin phép Pháp khai thác phốt phát trên đảo, từ đó Pháp đặt quyền kiểm soát tàu bè và thu thuế quan ở Hoàng Sa. Điều này gián tiếp khẳng định chủ quyền trước đó của Việt Nam ở Hoàng Sa và đến đầu thế kỷ XX thì do Pháp nắm.
Năm 1921: chính quyền quân phiệt Quảng Đông tuyên bố sáp nhập Hoàng Sa vào huyện Yai Hiên (thuộc Hải Nam) nhưng không được thế giới công nhận vì đây là một chính quyền tự trị phân tách của Trung Quốc.
Ngày 3/3/1925: thượng thư Bộ binh của triều đình Huế khẳng định Hoàng Sa từ khởi thủy đã thuộc chủ quyền ViệtNam.
Năm 1925: Toàn quyền Pháp tại Đông Dương khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Pháp tại Đông Dương. → năm 1927: Pháp cho tàu De Lanessan ra Trường Sa.
Ngày 30/3/1930: vua Bảo Đại ra dụ sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên (vốn trước thuộc Quảng Ngãi).
13.4.1930: tòan quyền Đông Dương phái tàu La Malicieuse ra Trường Sa cắm cờ Pháp, thông báo chủ quyền đến tất cả các cường quốc khác.
1931: Trung Quốc khẳng định quyền được khai thác phân chim ở Hoàng Sa. → Pháp phản đối
1932: Pháp đưa ra các chứng cớ lịch sử về chủ quyền của Việt Nam và Pháp tại Hoàng Sa và đòi đưa vấn đề ra Tòa án quốc tế để phản đối Trung Quốc.
13/4/1933: tàu Pháp ra Trường Sa làm lễ chủ quyền theo nghi thức cổ, xây các cột trụ gắn bản đồ và cắm cờ Pháp nhằm khẳng định chủ quyền tại đây.
26/7/1933: chính phủ Pháp tuyên cáo chiếm hữu Trường Sa và đặt tên riêng cho từng hòn đảo. → 21/12/1933: thống đốc Nam Kì sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
1937 – 1939: Pháp cho tàu ra nghiên cứu, đo đạc để xây dựng bến cảng, phi trường và hải đăng ở Hoàng Sa. Tiếp đó là việc thiết lập đơn vị hành chính cho Hoàng Sa, Trường Sa.
1938: Pháp dựng bia khẳng định chủ quyền tại Hoàng Sa: “Cộng hòa Pháp – Vương quốc An Nam, quần đảo Hoàng Sa – 1816 – Đảo Pattle”. Bên cạnh đó là trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện, và 1 ngọn hải đăng. Đồng thời Pháp cũng xây dựng tại đảo Itu Aba (Trường Sa) những công trình tương tự.
Năm 1939: Nhật loan báo việc kiểm soát Trường Sa nhưng bị Pháp phản đối. Năm 1945: lính Nhật chiếm Hoàng Sa. Đến tháng 5/1946, Pháp đã nhanh chóng chiếm lại chủ quyền.
3. Giai đoạn 1946 – 1954
Năm 1946: lính Tưởng Giới Thạch cũng đổ bộ vào 2 quần đảo này với lí do tước vũ khí quân đội Nhật.
Ngày 7/1/1947: Tưởng Giới Thạch nhân lúc Pháp bỏ trống Hoàng Sa đã đưa quân chiếm đảo Phú Lâm (Woodly Island) và bị Pháp phản đối. Pháp đưa một đội quân cả Pháp và Việt ra đồn trú tại Hoàng Sa.
TGT cũng phản đối sự kiện trên, ngày 1/12/1947 đã đặt tên Trung Quốc cho 2 quần đảo trên và tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.
Năm 1949: hoàng thân Bửu Lộc tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1950: quân Tưởng rút khỏi đảo Phú Lâm, quân Pháp vẫn đồn trú trên các đảo khác ở Hoàng Sa.
Ngày 14/10/1950: Pháp trao trả chủ quyền 2 quần đảo cho chính phủ Bảo Đại. Thủ hiến Trung kì đã ra tận Hoàng Sa để tiếp nhận chủ quyền và đem quân đồn trú. Trường Sa không có lực lượng quân sự nào đồn trú.
Năm 1951: cảPhilippinesvà Trung Quốc đều khẳng định chủ quyền ở Trường Sa. Nước Nhật từ bỏ mọi đòi hỏi đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Hội nghị San Francisco 1951 đã bác bỏ quan điểm về chủ quyền của Trung Hoa đối với Hoàng Sa và các đảo xa hơn ở phía Nam.
Thủ tướng Trần Văn Hữu của chính phủ Bảo Đại khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa trong hội nghị.
4. Giai đoạn 1954 – cuối thế kỷ XX
Tháng 4/1956: Pháp rút khỏi Đông Dương, chính phủ Việt Nam cộng hòa đưa quân thay thế lính Pháp đồn trú ở Hoàng Sa, Trung Quốc cũng cho quân chiếm đảo Phú Lâm, hình thành việc chiếm đóng hai khu vực Đông (Trung Quốc) và Tây (Việt Nam: có nhiều hoạt đông như nghiên cứu, xây dựng, cắm bia chủ quyền).
Ngày 15/3/1956: một vài công dânPhilippineschiếm một vài đảo ở Trường Sa và chính phủPhilippineskhẳng định chủ quyền của họ ở đây.
31/5/1956: Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa là có từ thế kỷ XV và Đài Loan đã cho quân đồn trú ở đảo Itu Aba.
1/6/1956: Ngoại trưởng chính phủ Việt Nam cộng hòa tái tuyên bố chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này.
22/8/1956: Hải quân Việt Nam đổ bộ lên các đảo chính của Trường Sa, dựng cột đá, cắm cờ. Đến tháng 10, Trung Quốc đã hất cẳngPhilippineskhỏi Trường Sa.
Ngày 4/9/1958: Trung Quốc tuyên bố chiều rộng lãnh hải của mình là 12 hải lí và đưa người xâm nhập các đảo phía Tây Hoàng Sa nhưng không thành.
Ngày 14/9: Thủ tướng Việt Nam dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng tuyên bố: ““Thưa đồng chí Tổng lý
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.
Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Tuy nhiên, tuyên bố trên không có hiệu lực trong việc tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa giai đoạn đó vì Việt Nam dân chủ cộng hòa không phải là chủ thể của cuộc tranh chấp giai đoạn 1954 – 1975 mà là Việt Nam cộng hòa. Tuyên bố này chỉ mang tính chất chính trị, thể hiện mối quan hệ giữa hai nhà nước Xã hội chủ nghĩa lúc đó.
Năm 1971: Ngoại trưởng của chính phủ Việt Nam cộng hòa tiếp tục khẳng định chủ quyền tại Trường Sa.
Năm 1973: chính quyền Sài Gòn sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy.
Ngày 11/1/1974: Bắc Kinh tuyên bố sự sáp nhập trên là vi phạm lãnh thổ Trung Quốc và tái khẳng định chủ quyền trên cả 2 quần đảo.
Ngày 15/1/1974: Trung Quốc cho quân chiếm những hòn đảo phía Tây Hoàng Sa do Việt Nam cộng hòa đồn trú. Đến 18/1, Đài Loan tái khẳng định chủ quyền của họ. Chính quyền Sài Gòn yêu cầu Liên Hợp Quốc xem xét vấn đề.
Ngày 2/7/1974: đại diện Việt Nam cộng hòa tại Liên Hợp Quốc đã tái khẳng định chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa.
5. Giai đoạn 1975 – cuối thế kỷ XX
Ngày 5 – 6/5/1975: hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam thay thế lính Việt Nam cộng hòa để kiểm soát các đảo ở Trường Sa
10/9/1975: Trung Quốc gửi công hàm cho Việt Nam, tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa.
1978: quân đội Philippines chiếm một số đảo khác của Trường Sa và năm 1979 tuyên bố chủ quyền của mình ở hầu hết các đảo ở Trường Sa trừ chính đảo Trường Sa.
Năm 1982: Trung Quốc cho xây dựng cảng tại Hoàng Sa. Việt Nam công bố về đường cơ sở lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1983, chính phủMalaysiatuyên bố chủ quyền trên 3 đảo của Trường Sa, đem quân chiếm đảo Hoa Lau. Việt Nam phản đối quyết liệt.
2/6/1984: Trung Quốc tuyên bố thành lập đặc khu hành chính gồm Hải Nam, Hoàng Sa, Trường Sa và bị Việt Nam phản đối.
Năm 1988: Trung Quốc chính thức lần đầu tiên sử dụng đến quân đội tấn công vào Trường Sa, gây thiệt hại cho hải quân Việt Nam: 74 lính mất tích.
1988:Philippinesthành lập đơn vị hành chính ở đảo Thị Tứ và xác lập chủ quyền ở đây.
1989: Trung Quốc chiếm tiếp các đảo nhỏ ở Trường Sa, Việt Nam bắt đầu xây dựng các đặc khu kinh tế.
1992: Trung Quốc đưa ra đạo luật quy định vùng lãnh hải bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời đưa quân chiếm đóng các đảo nhỏ khác thuộc Trường Sa.
1995: Trung Quốc chiếm thêm đảo Vành Khăn đang doPhilippineschiếm đóng.
1994: ViệtNamphê chuẩn Công ước về luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1992.
Hiện nay có 5 quốc gia liên quan (6 bên) đến vấn đề Trường Sa là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Brunay, Malaysia và đảo Đài Loan.
____________________________________________________________
HOA ĐẸP
DU LỊCH VÀ THẮNG CẢNH
Danh ngôn
HÁT KARAOKE
LƯU BÚT NGÀY XANH
TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO
Các ý kiến mới nhất